You are not connected. Please login or register

Chia sẻ

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

avatar

Bài gửiTiêu đề: Vợ chồng già bị 7 đứa con đẩy ra ăn Tết ngoài đường cùng cỗ quan tài 1/29/2012, 6:50 am1


Vợ chồng già bị 7 đứa con đẩy ra ăn Tết ngoài đường cùng cỗ quan tài

Sinh hạ được 7 người con, chịu bao đắng cay để nuôi nấng chúng nên
người. Vậy mà, giờ đây chúng "báo hiếu" ông bà bằng những cú đấm thẳng
mặt, những lời rủa sả...


Đó là bi kịch của vợ chồng cụ Nguyễn Văn Quý (84
tuổi) và cụ Nguyễn Thị Chén (82 tuổi), ngụ thôn Đồng Lư, xã Đồng Quang,
huyện Quốc Oai, Hà Nội. Tám năm bị con cái đẩy ra đường là tám cái Tết của cặp vợ chồng bất hạnh.

Những đứa con “trời đánh”
Tìm đến thôn Đồng Lư hỏi thăm vào ngôi chùa có vợ
chồng cụ già phải tá túc, mọi người đều biết chính xác: “Chắc cô chú tìm
ông bà Quý hả? Tội nghiệp ông bà ấy lắm cô chú ạ, hiền lành, chịu
thương chịu khó nhưng về già mất phúc. Con cái thì đông đúc, giàu có mà
có đứa nào chịu nuôi bố mẹ đâu”. Rồi không kịp để khách hỏi thêm câu
nào, mọi người tranh nhau kể tội mấy đứa con bất nhân của hai cụ: “Mấy
hôm trước chúng nó lại vừa hành hung bố mẹ”.

Chuyện cặp vợ chồng già bị 7 đứa con đẩy ra ăn Tết ngoài đường cùng 6 miếng gỗ đóng quan tài

Cụ
bà Nguyễn Thị Chén đang cầm chổi quét sân chùa, tuổi già, mắt kém nên
lẩy bẩy lia từng nhát chổi chậm chạp, cứ vài phút lại dừng tay đấm lưng.
Trời Hà Nội những ngày cuối năm lạnh đến dưới 10 độ C nhưng bà cụ cho
biết ông lão chồng mình từ sáng sớm đã ra đồng mò cua bắt ốc.

Nghe có người muốn đến hỏi chuyện bi kịch của
mình, khóe mắt nhăn nheo của bà cụ trào nước mắt: “Một đời chúng tôi vì
con vì cái, nuôi nấng dựng vợ gả chồng cho chúng, không để nợ một đồng
một cắc nào cho chúng. Vậy mà giờ chúng đối xử với vợ chồng tôi thế này
đây”.

Cách đây 60 năm, ông bà quen nhau trong một lần đi
làm thuê ở miền sơn cước rồi nên duyên vợ chồng. Về sống với nhau, ông
bà lập nghiệp từ đôi bàn tay trắng trong hoàn cảnh khó khăn nghèo túng.
Lúc vợ chồng ra ở riêng tài sản chỉ có duy nhất 20 cây tre để dựng căn
nhà làm nơi tá túc tránh mưa tránh nắng.

Ông bà lần lượt sinh hạ được bảy người con, ba
trai, bốn gái. Cuộc sống vốn dĩ đã khó khăn, khi bảy đứa con lần lượt
chào đời thì cuộc sống càng túng quẫn hơn. Để nuôi được bảy người con
thành người, ông bà đã phải chịu trăm ngàn cực nhục. Ông đi làm thuê làm
mướn hùng hục suốt ngày, còn bà thì tối ngày cắm mặt trên mấy thửa
ruộng kiếm miếng cơm manh áo nuôi con. Căn nhà nhỏ cũ nát đêm mưa không
có chỗ nằm, ông bà nhường cho các con chỗ khô ráo, còn mình thì chịu
trận giữa mưa gió.

Bữa no bữa đói, nồi cơm độn sắn ngô không đủ cho
đàn con đông đúc, có bữa ông bà phải nhịn ăn nhường con. Xã hội ngày
càng càng phát triển, cuộc sống rồi cũng bớt khó khăn. Rồi ông bà dựng
vợ gả chồng cho mấy đứa con lớn, mấy đứa nhỏ thì do cuộc sống khó khăn
quá nên ông bà dắt lên vùng kinh tế mới ở Tiến Xuân thuộc huyện Lương
Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là xã Tiến Xuân, huyện Thạch Thất, thành phố Hà
Nội).

Đến vùng kinh tế mới, do chịu khó làm ăn nên cuộc
sống gia đình đã thoát khỏi cảnh túng quẫn. Lúc này ông bà dựng vợ gả
chồng nốt cho mấy đứa nhỏ. Tuy không bằng ai nhưng ông bà vẫn cố gắng lo
lắng cho con cái chu đáo, 3 người con trai thì cho mỗi anh một dinh cơ
khi lấy vợ, không để nợ một xu một đồng cho đứa con nào.

Khi người con trai thứ ba của ông bà lấy vợ xây
nhà, đứa con xui ông bà bán đất ở vùng kinh tế mới để lấy tiền xây nhà
cho mình, ông bà cũng nghe theo vì cha mẹ nào chẳng “cá đuối đắm đuối vì
con”.

Những bữa cơm chan nước mắt
Bà cụ giơ tay gạt dòng nước mắt rồi tiếp tục câu
chuyện. Sau khi dồn hết tiền làm nhà cho anh con trai thứ ba, ông bà về ở
với người con trai cả khi trong tay ông bà không còn tiền. Người con cả
khi đó đã hậm hực hắt hủi ông bà với lý do: “Bao nhiêu tiền cho thằng
thứ ba hết, tôi không được gì”, trong khi chính anh ta thừa hưởng mảnh
đất trước đó cha mẹ cho.

Sống với người con cả, vợ chồng cụ phải làm như
người đi ở. Hàng ngày hai cụ phải lấy bèo nuôi bảy con lợn, cày cấy gặt
hái, đi làm sớm về muộn mới được miếng cơm để ăn. Đến mùa vụ, có khi cụ
bà đi gặt được mấy gánh lúa thì con dâu mới ra đồng. Cực nhục là vậy
nhưng với bản tính hiền lành chịu thương chịu khó, ông bà cắn răng không
kêu nửa lời cho vừa lòng vợ chồng con cả.

Nhưng cũng chẳng được bao lâu thì anh con cả tuyên
bố thẳng thừng: “Ông bà cút khỏi nhà này, đi đâu thì đi”. Vợ chồng cụ
đành lẳng lặng ôm quần áo tìm đến nhờ vả anh con trai thứ ba. Những
tưởng trước đây mình đã lo lắng bán nhà đi lấy tiền cho nó xây nhà thì
con sẽ tốt với mình, thế nhưng trái lại người con này cũng không kém
phần tệ bạc với cha mẹ và tỏ rõ “quan điểm”: “Ông cả không tử tế với ông
bà thì tôi việc gì phải tử tế?”.

Ở đây, cảnh khổ không kém gì con cả khi đã không
những phải làm lụng vất vả, họ còn năm lần bảy lượt bị con đuổi đi. Nhục
nhã nhất là những bữa cơm chan nước mắt. Bữa ăn nào cũng vậy, người con
trai bắt bố mẹ phải cung kính mời… vợ chồng con cái mình ăn cơm bằng
câu: “Mời ông bà ăn cơm, mời các cháu ăn cơm”.

Có những người làng xóm thấy vậy thì bực mình thay
và phẫn nộ: “Ông bà hiền quá để nó bắt nạt, mình là bố mẹ đến bữa thì
sao phải mời chúng nó”. Thử một lần “phạm thượng”, tối đó hai cụ không
mời thì bị con trừng mắt nạt nộ: “À, cái nhà này ăn cơm không ai mời ai
à”. Sợ ông “trời con”, ông bà run rẩy “trở về nếp cũ”: “Mời ông bà…”.

Nhẫn nhịn bao lâu những mong yên thân nhưng “cây
muốn lặng mà gió chẳng dừng”, đến một hôm gã con trai thứ ba giơ tay đấm
vào mặt mẹ, vác dao kề cổ bố xua đuổi: “Bước mẹ chúng mày ra khỏi nhà,
không tao cho nhát dao bây giờ” (Lời nguyên văn của cụ Chén - PV).

Thấy bố mẹ lủi thủi ôm mớ quần áo rách bước đi, gã
còn thẳng thừng tuyên bố: “Còn quay về đây thì đập chết”. Vẫn còn một
niềm hi vọng nữa là người con trai thứ. Biết bố mẹ phải lang thang ngoài
đường, anh này đón ông bà lên ở cùng nhưng cũng được vài hôm. Phải sống
trong cảnh những lời nói móc máy của cô con dâu ra rả trong nhà suốt cả
ngày, ông bà cảm thấy sống còn khổ hơn chết. Nước mắt lưng tròng, không
còn nơi nương tựa vợ chồng cụ lang thang đây đó, đến khi không còn chỗ
nào nữa đành phải vào ở nhờ nhà chùa.

Tám mươi năm cuộc đời vất vả làm lụng, gia tài các
cụ có trong tay là bảy đứa con bất hiếu và bất lực, sau miếng ván dùng
để đóng áo quan khi chết cùng 3 bao tải đựng lá khô dùng đun nấu. Người
làng thấy vậy liền thương tình người cho cái bát, người cho manh chiếu,
người cho cái giường cũ để các cụ dựng thành cái “tổ ấm” cuối đời. Rơi
lệ nghe những kỷ niệm
3 người con trai thì vậy, những người con gái cũng không “khá khẩm” gì
hơn. “Mấy đứa con gái thì một đứa lấy chồng ở Xuân Mai, một đứa lấy ở
trại Bà Nhà, một đứa ở Cố Đụng (đều là những địa điểm gần nơi ông bà
đang ở nhờ - PV), còn đứa út thì lấy chồng ở làng Đồng Lư này thôi”, bà
lão nhẩm đếm.

3 đứa con gái của cụ theo lời kể của bà lão tội
nghiệp thì kinh tế đều khá giả, chỉ có cô út lấy chồng ở làng thì nghèo
“rớt mồng tơi”. Chẳng biết giàu sang cỡ nào nhưng mấy đứa con gái hàng
năm không ngó ngàng tới bố mẹ, năm thì mười họa mới mua cho ông bà mấy
viên thuốc, Tết nhất may ra cho được túi kẹo cái bánh.

Riêng cô con út cùng làng thương cha mẹ già thì
thỉnh thoảng ghé qua nhưng nghèo quá, nuôi còn chưa nổi nói gì lo cho
cha mẹ già. Trở lại câu chuyện những người con trai. “Sòng phẳng” mà nói
thì lúc ra nhà chùa ở, hai cụ vẫn chưa đến nỗi không còn “miếng đất cắm
dùi” vì vẫn còn một sào ruộng để cấy lúa sinh nhai. Thế nhưng tài sản
cuối cùng này cũng bị đứa con trai cả tranh cướp.

Đã mấy lần cô út đi giúp bố mẹ già làm ruộng thì
bị vợ chồng anh cả vác cuốc đuổi đánh, không cho làm hộ vì “đó là ruộng
của tao, mày đừng có động vào”, Chưa hết, mấy năm trước hai cụ đến tuổi
thượng thọ nên được hưởng chính sách của Nhà nước, theo quy định thì
phải có sổ hộ khẩu, chính quyền mới có thể làm giấy tờ chúc mừng, làm
chế độ. Vẫn đứng tên trong hộ khẩu gia đình con trai cả, ông bà lủi thủi
về van vỉ con cho mượn cái sổ hộ khẩu để làm giấy tờ cũng bị đứa con từ
chối thẳng thừng.

Khi người cha về van vỉ: “Con cho bố mượn sổ hộ
khẩu một lát, bố chỉ mang đi photocopy rồi trả ngay” thì đứa con nại ra
lý do “Sổ đang ở nhà trưởng thôn”. Lóc cóc tìm đến nhà trưởng thôn thì
được biết rằng con đã lừa mình, ông lão lại lộn trở lại nhịn nhục xin
mượn lần nữa thì con trai – con dâu đùn đẩy nhau. Uất ức, người cha gạt
nước mắt lủi thủi quay đi và thề “không bao giờ bước chân đến đây nữa”.

Cũng có những lúc ông bà lão 80 này được những đứa
con “đối xử tử tế” một cách bất thường. Đó là những lúc chúng cần các
cụ làm “con ở”. Thằng con trai thứ ba của họ là một ví dụ, khi vợ sinh
nở thì người này tới đón vợ chồng cụ vào.

Đã “cảnh giác” sau nhiều lần bị lợi dụng nên cụ
ông không đi vì nghĩ “nó chỉ đạo đức giả”, riêng cụ bà thương con thương
cháu nên theo vào chăm sóc, giặt giũ, làm lụng “phục vụ” gia đình con.
Lời ông cụ đã đúng khi đứa cháu đã cứng cáp, vợ chồng đứa con lại đuổi
bà đi: “Bà đi làm lấy mà ăn, không được ở đây nữa”.

Gần 10 năm nay thấy ông bà lão chui rúc trong căn
lều rách, nhiều người hàng xóm khuyên: “Hai cụ đi ở nhờ đình chùa làm gì
cho khổ, về làm một túp lều ở góc vườn nhà thằng con mà ở”. Phong phanh
nghe thấy, đứa con ngang ngược nói bóng gió: “Về tao không cho làm, tao
“băm” chết”.

Với những “kinh nghiệm xương máu” từ những đứa
con, bà cụ thành thật: “Chẳng biết rồi khi chúng tôi chết chúng có để ý
đến bố mẹ không, hay lại phải nhờ cậy đến chính quyền, đến dân trong
làng”. Những đứa con trai chưa từng một lần đến xem túp lều nơi cha mẹ
trú thân, chưa từng một lần ngó ngàng để ý bố mẹ còn sống hay chết.

Táng tận lương tâm hơn, chúng còn cấm tiệt các con
không được chào hỏi, không được ra chơi với ông bà. Những đứa con dâu
“rách giời rơi xuống” thì đã đành, nhưng những đứa cháu có lẽ đã được bố
mẹ “huấn luyện” nên có gặp ông bà hay cô út ngoài đường chúng cũng “bơ”
đi như người dưng nước lã.

Chúng tôi hỏi tại sao hai cụ không nhờ chính quyền địa phương can thiệp
sự việc, ít nhất nếu con cái không nuôi cha mẹ thì cũng phải trả các cụ
mảnh ruộng cho các cụ kiếm gạo chứ? Cụ bà nghẹn ngào: “Chính quyền cũng
không làm gì được mấy thằng con tôi. Ở đây chúng nó chửi nhau hết với họ
hàng rồi đến hàng xóm, sống một mình mà không chơi với ai cả”.
Chị út khi đó vừa đến thăm mẹ cũng gục đầu nức nở: “Trước kia khi anh
tôi kề dao vào cổ bố dọa chém, chính quyền và dân quân có đến bắt anh ta
viết giấy cam đoan không được hành hung bố mẹ nữa nhưng chỉ hôm trước
hôm sau lại đâu vào đấy. Tôi thì cũng đau lòng lắm nhưng “lực bất tòng
tâm” các anh chị ạ, muốn nuôi bố mẹ mà sức không nổi vì nghèo, lại lấy
chồng nên phải lo nhà chồng”.
Sống khổ hơn chết
Góc nhà nơi ông bà lão “trời đày” này trú ngụ rộng khoảng dăm m2, chiếc
giường xin được ở đâu nên hai chân còn, hai chân phải lấy gạch kê lên.
Người già đã khó , đêm mùa đông càng khó hơn khi gió cứ len lỏi qua cửa sổ thốc vào nhà dù hai cụ đã cẩn thận nhét đầy ni long, giẻ rách vào các khe hở.
“Nghĩ cực lắm, chúng tôi có làm gì nên tội đâu mà lại bị đày đọa thế
này. Nhưng vợ chồng tôi cũng kiên gan lắm đấy, nhiều khi cũng muốn phát
điên hay cắn lưỡi mà chết, nhưng bây giờ mà chết thì chính quyền với
làng xóm lại khổ nên sống được ngày nào cứ cố sống. Đêm nào cũng nước
mắt chảy xuôi, cụ Chén nói.
Đọc đến đây, nhiều người sẽ thắc mắc ông bà lão sinh sống bằng gì. Bà cụ
cho biết ngoài việc ông lão ngày ngày đi mò cua bắt ốc, người trong
làng còn mỗi người giúp một chút, hôm thì cho lon gạo, hôm thì cho ít
muối, mà người già ăn ít, chẳng có nhu cầu mua sắm gì nên ông bà vẫn cầm
cự được.
“Năm nay là cái Tết thứ tám vợ chồng tôi ở đây rồi, Tết nhất chẳng có
gì, cứ nhìn nhà người ta con cái sum vầy thì mình lại khóc. Mình có đến
bảy đứa con, hàng chục đứa cháu mà lại khốn khổ khốn nạn nhất cái làng
này”, cụ Chén khóc. Rồi cụ bà ngóng ra ngoài xem cụ ông đã về đi mò cua
bắt ốc về chưa, chép miệng thương chồng: “Khổ thân ông ấy, tôi thì ốm
đau nên mọi việc đều phải ông ấy làm.
Sáng nay tôi bảo trời vẫn rét lắm, đừng đi ra đồng lặn lội nữa mà ông ấy
vẫn gạt đi, bảo là Tết đến nơi rồi phải kiếm mớ ốc con tép bán kiếm
tiền mua nén nhang cúng tổ tiên. Trời rét thế này tôm tép cũng trốn
sạch, có khi mình còn chết rét ấy chứ”. Cụ bà kể lại cụ ông ngày may mắn
thì cũng kiếm được vài con ốc bán lấy dăm ngàn, có ngày đi từ sáng đến
tối mới về mà tay không vì “tay đưa thìa cháo lên miệng còn run, mắt kèm
nhèm thì làm sao bắt được tôm tép.
Có ngày bắt được nửa giỏ ốc về nhưng đổ ra tôi mới thấy quá nửa toàn là…
vỏ ốc. Những ngày không có gì ăn hay gần hết cái ăn, hai cụ phải nấu
cháo húp dằn lòng, hoặc cố đi nhặt nhạnh rau dại ăn trừ bữa. Chùa cũng
không có nước, hàng ngày cụ ông lọc cọc kéo xe bò từ giếng làng về để
dùng sinh hoạt. Ấy là mấy hôm trước ông lão vừa đi viện về, vậy mà vừa
xuất viện hôm trước hôm sau lại đã lọ mọ ra đồng tìm cái ăn.
Nhắc đến chuyện này, bà cụ lại rưng rưng nước mắt nhớ “bạn”. “Bạn” của
bà là một con chó gầy giơ xương, tám năm nay lủi thủi quanh quẩn cùng
ông bà, lúc ông đi kiếm ăn thì bầu bạn với bà, cho bà vỗ về. Vậy nhưng
hôm ông lão ốm, nhà làm gì có đồng nào xu nào nên bà chạy nháo nhác khắp
làng hết vay rồi xin cũng chỉ được vài chục ngàn. Bà lão đành gọi lái
chó đến bán “bạn” mình đi. Bà vỗ về “bạn” trước khi người lái chó thòng
dây vào cổ con chó ốm: “mày thông cảm, hoặc là chồng tao chết, hoặc là
mày chết. Thôi “mày” đi thay ông ấy”.
Không rõ con chó lẽ cũng hiểu tình cảm của bà lão, hay vì đói quá nên
chẳng còn sức ăng ẳng kêu như những con chó khác khi bị bán, chỉ mắt
long lanh nước nhìn bà chủ ngoảnh mặt đi. Trong cuộc đời này không nỗi nào bằng nỗi
con bất hiếu – cha mẹ bị hắt hủi. Ai cũng có mẹ có cha nên chạnh lòng
trước thảm cảnh của hai cụ, chúng tôi cũng muốn khóc nhưng phải cố dằn
lòng vì khóc không giúp được gì cho hai cuộc đời khổ sở cùng cực này,
chỉ mong thông qua mặt báo chuyển tải đến hàng triệu bạn đọc trên cả
nước lời khẩn cầu có một sự đóng góp nhỏ giúp đỡ hai cuộc đời này.
Lẩn thẩn nghĩ lại thấy hai cụ ngày xưa đã nghèo, nay còn nghèo hơn nữa:
60 năm trước khi lấy nhau các cụ còn có mơ ước về những đứa con là “của
để dành” và 20 cây tre làm nhà; nay cuối đời các cụ còn gì ngoài sự thất
vọng về đạo lý làm người và 6 miếng gỗ mới chỉ đủ làm một chiếc áo
quan, lại động chạm đến nỗi áy náy của bà cụ: “Hai người chết chung thì
còn chôn một hòm được, nếu không chết cùng nhau thì chẳng lẽ một người
lại… bó chiếu?”…
Theo Phap luat & Thoi dai

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down Thông điệp [Trang 1 trong tổng số 1 trang]

Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết

 
  • Free forum | © PunBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Sosblog.com